Các Điểm Mới Của Thông Tư 86/2024/TT-BTC Về Đăng Ký Mã số Thuế

Đăng ký mã số thuế là một nghĩa vụ quan trọng đối với mọi tổ chức và cá nhân có phát sinh nghĩa vụ thuế với Nhà nước Việt Nam. Việc ban hành Thông tư mới này nhằm mục tiêu đơn giản hóa thủ tục, giảm bớt gánh nặng hành chính cho người nộp thuế phù hợp định hướng chuyển đổi số quốc gia, đặc biệt là việc ứng dụng số định danh cá nhân. Phân tích chi tiết các điểm mới của Thông tư 86/2024/TT-BTC:

MỤC LỤC BÀI VIẾT

  • Quy định chung và phạm vi điều chỉnh (Chương I)
  • Cấu trúc mã số thuế (Điều 5)
  • Thủ tục đăng ký thuế đối với tổ chức (Chương II, Điều 7-21)
  • Thủ tục đăng ký thuế đối với hộ kinh doanh, hộ gia đình, cá nhân (Chương III, Điều 22-34)
  • Các điểm mới đáng chú ý khác
  • Tác động và ý nghĩa của những thay đổi
    • 1. Quy định chung và phạm vi điều chỉnh (Chương I)

      1. Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp (Điều 38)
        Thông tư 86/2024/TT-BTC chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 06 tháng 02 năm 2025 1. Điểm đáng chú ý là quy định về việc sử dụng số định danh cá nhân (SDDCN) thay cho mã số thuế (MST) đối với cá nhân, hộ kinh doanh và hộ gia đình sẽ được thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Trong khoảng thời gian từ ngày 06 tháng 02 năm 2025 đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2025, MST do cơ quan thuế cấp cho các đối tượng này vẫn có giá trị sử dụng. Việc chuyển đổi sang sử dụng SDDCN là một bước tiến lớn trong việc đồng bộ hóa thông tin và hướng tới quản lý thuế dựa trên dữ liệu quốc gia về dân cư.
      2. Thay đổi trong danh sách đối tượng đăng ký thuế trực tiếp (Điều 4)
        Thông tư 86/2024/TT-BTC có sự điều chỉnh về danh sách các đối tượng phải thực hiện đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế.

        1. Bãi bỏ quy định liệt kê cụ thể doanh nghiệp đăng ký theo pháp luật chuyên ngành (Khoản 2, Điểm a): Thông tư mới đã bỏ việc liệt kê cụ thể các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực như bảo hiểm, kế toán, kiểm toán, luật sư, công chứng 10. Mục đích của sự thay đổi này là để tránh tình trạng các quy định về thuế bị ảnh hưởng khi pháp luật chuyên ngành có sự sửa đổi 10. Thay vì liệt kê, Thông tư 86/2024/TT-BTC có thể sử dụng một cách diễn đạt mang tính nguyên tắc hơn, bao quát các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực chuyên ngành mà không phải đăng ký qua cơ quan đăng ký kinh doanh.
        2. Bổ sung đối tượng là cá nhân nước ngoài không cư trú tại Việt Nam trong lĩnh vực thương mại điện tử (Khoản 3, Điểm k): Thông tư 86/2024/TT-BTC đã bổ sung đối tượng là “cá nhân nước ngoài không cư trú tại Việt Nam” có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác với tổ chức, cá nhân ở Việt Nam vào danh sách các đối tượng phải đăng ký thuế trực tiếp 10. Đây là một điểm mới quan trọng, thể hiện sự thích ứng của cơ quan thuế với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế số và thương mại điện tử xuyên biên giới. Việc đưa đối tượng này vào diện đăng ký thuế giúp Nhà nước quản lý và thu thuế hiệu quả hơn đối với các hoạt động kinh doanh trên nền tảng số.
    • 2. Cấu trúc mã số thuế (Điều 5)

      1. Quy định riêng về mã số thuế cho nhà thầu nước ngoài (Khoản 4, Điểm d): Thông tư 86/2024/TT-BTC bổ sung quy định về việc cấp mã số thuế cho người nộp thuế là nhà thầu nước ngoài đăng ký nộp thuế trực tiếp với cơ quan thuế. Trường hợp có nhiều nhà thầu nước ngoài cùng tham gia một hợp đồng nhà thầu ký với bên Việt Nam và các nhà thầu có nhu cầu kê khai, nộp thuế riêng thì mỗi nhà thầu sẽ được cấp một mã số thuế 10 số riêng 10. Thông tư 105/2020/TT-BTC trước đây chưa có quy định cụ thể về trường hợp này 11. Việc quy định rõ ràng về cấp mã số thuế riêng cho từng nhà thầu nước ngoài trong cùng một hợp đồng giúp đơn giản hóa thủ tục kê khai và nộp thuế, đồng thời đảm bảo nghĩa vụ thuế được thực hiện đầy đủ bởi từng nhà thầu.
      2. Sửa đổi quy định về cấp mã số thuế nộp thay (Khoản 4, Điểm e): Thông tư 86/2024/TT-BTC đã sửa đổi quy định về việc cấp mã số thuế nộp thay cho tổ chức có hợp đồng hoặc văn bản hợp tác kinh doanh. Theo quy định mới, người nộp thuế chỉ đăng ký cấp mã số thuế nộp thay trong trường hợp có nhu cầu cấp mã số thuế riêng cho hợp đồng hợp tác kinh doanh đó 10. Thông tư 105/2020/TT-BTC trước đây chưa nêu rõ quy định này, dẫn đến một số vướng mắc trong việc sử dụng hóa đơn và hoàn thuế giá trị gia tăng 11. Việc làm rõ quy định này giúp người nộp thuế chủ động hơn trong việc lựa chọn có cần thiết phải đăng ký mã số thuế nộp thay cho hợp đồng hợp tác kinh doanh hay không, từ đó giải quyết các vấn đề liên quan đến hóa đơn và hoàn thuế một cách thuận lợi hơn.
    • 3. Thủ tục đăng ký thuế đối với tổ chức (Chương II, Điều 7-21)

      1. Đơn giản hóa hồ sơ đăng ký thuế lần đầu (Điều 7, Khoản 1, Điểm a.2 và b.2): Thông tư 86/2024/TT-BTC đã bỏ Bảng kê các đơn vị phụ thuộc (mẫu BK02-ĐK-TCT) ra khỏi hồ sơ đăng ký thuế lần đầu của đơn vị phụ thuộc 10.
    • 4. Thủ tục đăng ký thuế đối với hộ kinh doanh, hộ gia đình, cá nhân (Chương III, Điều 22-34)

      1. Loại trừ một số trường hợp hộ kinh doanh (Điều 22, Khoản 1): Thông tư 86/2024/TT-BTC quy định hộ gia đình, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc trường hợp đăng ký kinh doanh theo quy định của Chính phủ về đăng ký hộ kinh doanh thực hiện đăng ký thuế thông qua cơ chế một cửa liên thông cùng với đăng ký kinh doanh sẽ không thuộc đối tượng đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế 10. Điều này nhằm đồng bộ hóa quy trình đăng ký giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế.
      2. Sử dụng số định danh cá nhân thay cho mã số thuế (Điều 23, Khoản 1): Đây là một trong những điểm mới quan trọng nhất của Thông tư 86/2024/TT-BTC. Theo đó, từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, số định danh cá nhân được thay cho mã số thuế của cá nhân, người phụ thuộc, cũng như của người đại diện hộ gia đình, hộ kinh doanh 3. Việc chuyển đổi này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc ứng dụng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia vào quản lý thuế.
      3. Bãi bỏ quy định cấp mã số thuế 13 chữ số cho địa điểm kinh doanh (Điều 23, Khoản 2): Thông tư 86/2024/TT-BTC đã bỏ quy định cấp mã số thuế 13 chữ số cho các địa điểm kinh doanh của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh 10. Điều này giúp đơn giản hóa hệ thống mã số thuế và giảm bớt sự phức tạp trong quản lý thuế đối với các hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh có nhiều địa điểm hoạt động.
      4. Cập nhật thủ tục đăng ký thuế lần đầu (Điều 22, Khoản 1 và Điều 24): Thông tư quy định địa điểm và hồ sơ đăng ký thuế lần đầu của hộ kinh doanh sẽ thực hiện theo quy định của Chính phủ về đăng ký hộ kinh doanh 10. Đối với hộ gia đình, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh đăng ký thuế trực tiếp, thủ tục cũng được điều chỉnh về địa điểm nộp hồ sơ và việc sử dụng SDDCN/MST đã cấp khi phát sinh thêm hoạt động kinh doanh hoặc địa điểm kinh doanh 10. Cụ thể, sau khi đăng ký thuế lần đầu, nếu cá nhân phát sinh hoạt động kinh doanh hoặc thành lập thêm địa điểm kinh doanh ngoài địa chỉ đã đăng ký, cá nhân sẽ sử dụng SDDCN (đối với người Việt Nam) hoặc MST đã được cấp (đối với người nước ngoài) để kê khai nộp thuế với Chi cục Thuế 10.
      5. Tăng cường xác thực thông tin qua Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (Điều 25, Khoản 1 và 4): Thông tư 86/2024/TT-BTC quy định cá nhân phải khai chính xác thông tin về họ và tên, số định danh cá nhân, ngày tháng năm sinh so với thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Khi đó, các thông tin về địa chỉ thường trú, địa chỉ hiện tại của cá nhân sẽ được tự động tích hợp từ cơ sở dữ liệu này mà không yêu cầu người nộp thuế phải khai 10. Trường hợp cá nhân là công dân Việt Nam chưa được cấp SDDCN thì phải liên hệ với cơ quan Công an cấp xã để thu thập thông tin và cấp SDDCN trước khi thực hiện thủ tục đăng ký thuế 10. Đối với cá nhân/đại diện hộ gia đình là người nước ngoài, nếu thông tin hộ chiếu đã được tích hợp vào tài khoản định danh điện tử Mức độ 2 thì không cần nộp bản sao hộ chiếu 10. Những quy định này giúp nâng cao tính chính xác của thông tin đăng ký thuế và giảm thiểu việc sử dụng giấy tờ.
      6. Đơn giản hóa thủ tục thay đổi thông tin đăng ký thuế (Điều 25, Khoản 1 và 4): Thủ tục thay đổi thông tin đăng ký thuế đối với hộ gia đình, cá nhân là người Việt Nam (sử dụng SDDCN) được đơn giản hóa bằng cách bỏ bản sao CMND/CCCD trong hồ sơ 10. Tương tự, đối với cá nhân/đại diện hộ gia đình là người nước ngoài (được cơ quan thuế cấp MST), không cần nộp bản sao hộ chiếu nếu đã tích hợp vào tài khoản định danh điện tử Mức độ 2 10.
      7. Quy định về tạm ngừng và tiếp tục hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh (Điều 28): Thông tư 86/2024/TT-BTC quy định cơ quan thuế không cập nhật trạng thái tạm ngừng hoạt động, kinh doanh đối với hộ kinh doanh nếu đã được cơ quan đăng ký kinh doanh chấp thuận tạm ngừng nhưng sau đó cơ quan thuế ban hành Thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký 10. Ngược lại, cơ quan Thuế sẽ cập nhật thông tin tạm ngừng hoặc tiếp tục hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh vào hệ thống khi nhận được thông tin từ cơ quan đăng ký kinh doanh, trừ trường hợp hộ kinh doanh đang bị cơ quan thuế thông báo không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký 10.
      8. Xử lý đối với cá nhân có nhiều mã số thuế (Điều 38, Khoản 3): Thông tư yêu cầu trường hợp cá nhân đã được cấp nhiều hơn 01 mã số thuế thì phải cập nhật thông tin SDDCN cho các mã số thuế đã được cấp để cơ quan thuế tích hợp các mã số thuế này vào SDDCN, hợp nhất dữ liệu thuế của người nộp thuế theo SDDCN.
    • 5. Các điểm mới đáng chú ý khác

      1. Phân chia chương riêng cho hộ kinh doanh, hộ gia đình và cá nhân: Thông tư 86/2024/TT-BTC đã dành một chương riêng (Chương III) để quy định về thủ tục đăng ký thuế đối với hộ kinh doanh, hộ gia đình và cá nhân 2. Trong khi đó, Thông tư 105/2020/TT-BTC không có sự phân định này. Điều này cho thấy sự chú trọng hơn đến đối tượng là cá nhân và hộ kinh doanh trong Thông tư mới, với các quy định được thiết kế riêng để phù hợp với đặc thù của nhóm đối tượng này.
      2. Cập nhật các mẫu biểu và thông báo: Thông tư 86/2024/TT-BTC đã có sự điều chỉnh, bổ sung một số mẫu biểu và thông báo sử dụng trong quá trình đăng ký thuế để phù hợp với các quy định mới 10. Ví dụ, mẫu Thông báo về việc chuyển nghĩa vụ thuế của người nộp thuế (mẫu số 39/TB-ĐKT) được bổ sung chi tiết thông tin về các khoản còn nợ và số tiền nộp thừa 15. Mẫu Thông báo về việc các nghĩa vụ thuế phải hoàn thành trước khi khôi phục mã số thuế (mẫu số 19.1-MST) cũng được ban hành .Tác động và ý nghĩa của những thay đổi
    • 6. Tác động và ý nghĩa của những thay đổi

      1. Đối với doanh nghiệp:
        1. Việc bỏ liệt kê cụ thể các doanh nghiệp đăng ký theo pháp luật chuyên ngành mang lại sự linh hoạt hơn, không bị ràng buộc bởi sự thay đổi của các luật chuyên ngành.
        2. Quy định rõ ràng về mã số thuế cho nhà thầu nước ngoài và mã số thuế nộp thay giúp doanh nghiệp dễ dàng thực hiện các nghĩa vụ thuế trong các giao dịch quốc tế và hợp tác kinh doanh.
        3. Việc đơn giản hóa hồ sơ đăng ký thuế lần đầu và cập nhật địa điểm nộp hồ sơ giúp giảm bớt gánh nặng hành chính cho doanh nghiệp.
        4. Doanh nghiệp cần chuẩn bị hệ thống để có thể sử dụng số định danh cá nhân trong các giao dịch liên quan đến cá nhân từ ngày 01/07/2025.
      2. Đối với cá nhân và hộ kinh doanh:
        1. Việc sử dụng số định danh cá nhân thay cho mã số thuế là một thay đổi lớn, mang tính bước ngoặt, giúp đồng bộ hóa thông tin và tạo thuận lợi cho người dân trong các thủ tục hành chính.
        2. Thủ tục đăng ký và thay đổi thông tin đăng ký thuế trở nên đơn giản hơn nhờ việc khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
        3. Việc bãi bỏ mã số thuế 13 chữ số cho địa điểm kinh doanh giúp giảm sự phức tạp cho hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh.
        4. Cá nhân và hộ kinh doanh cần chủ động rà soát và cập nhật thông tin để đảm bảo việc chuyển đổi sang sử dụng SDDCN diễn ra thuận lợi.
      3. Đối với cơ quan quản lý thuế:
        1. Việc sử dụng số định danh cá nhân giúp nâng cao tính chính xác của dữ liệu người nộp thuế, giảm thiểu tình trạng trùng lặp thông tin và gian lận thuế.
        2. Việc chuyên môn hóa quản lý thuế đối với doanh nghiệp lớn và các lĩnh vực đặc thù như dầu khí giúp nâng cao hiệu quả quản lý và thu thuế.
        3. Sự phối hợp chặt chẽ hơn với cơ quan đăng ký kinh doanh trong việc quản lý trạng thái hoạt động của người nộp thuế giúp cơ quan thuế nắm bắt thông tin kịp thời và chính xác.
        4. Cơ quan thuế cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về hệ thống công nghệ thông tin để đáp ứng việc sử dụng SDDCN và tích hợp dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

    Để lại một bình luận

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *